Trong đó, việc có nên cho doanh nghiệp (DN) tăng thêm thời kì làm việc hay không, cụ thể là mở rộng khung thỏa thuận làm thêm trong các trường hợp đặc biệt từ tối đa 300 giờ lên 400 giờ mỗi năm, đang tồn tại những quan điểm trái chiều.
Không ít ý kiến cho rằng, công nhân cần làm ít giờ đi để có thêm thời kì ngơi nghỉ nhằm tái tạo sức lao động và lương phải cao lên. Quá đúng và quá đạo đức! Có người khuyên: DN phải ứng dụng công nghệ mới để nâng cao năng suất, giảm cường độ làm việc cho người cần lao. Quá đúng và không sai! Tuy nhiên trên thực tế, việc quy định số giờ làm thêm của người cần lao không được nới rộng, sẽ có ảnh hưởng lớn tới nhiều vấn đề.
Việc tăng số giờ làm thêm trong một năm để bảo đảm sự linh hoạt cho người dùng lao động, tăng khả năng cạnh tranh về thị trường cần lao so với các nhà nước trong khu vực. Đặc biệt là trong hội nhập kinh tế quốc tế, hạp với các điều kiện nước ta là một nước đang phát triển và hiệp với thực tế người lao động có nhu cầu làm thêm giờ để tăng thu nhập. Khi mở rộng khung thời kì được phép làm thêm thì cần đảm bảo quyền tự quyết của người lao động khi dự hoạt động này.
Theo các chuyên gia cần lao, nhu cầu làm thêm chính yếu rơi vào nhóm DN thâm dụng cần lao như dệt may, giày da... Đơn hàng từ đối tác của nhóm các DN này thường không ổn định dẫn đến việc phải hoàn tất gấp. Từ đó, chủ dùng cần lao buộc phải thỏa thuận tăng ca với người cần lao.
Việc nâng thỏa thuận giờ làm thêm tối đa từ 300 giờ lên 400 giờ cho một số ngành nghề có tính đặc thù trong năm đã phần nào đáp ứng nhu cầu làm thêm giờ của phần nhiều người cần lao, đồng thời giải quyết được tình trạng thiếu hụt cần lao và không bị gò bó bởi thời gian làm thêm giờ trong năm, tạo điều kiện cho các DN có tính thời vụ. Hơn nữa, nếu nhiều ngành không cho làm thêm, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là đối với ngành nông nghiệp. Như mía đường chỉ sinh sản trong 4 tháng, thủy sản, lúa cũng thu hoạch theo vụ nếu không cho làm thêm thì sản phẩm nông phẩm sẽ không thể bảo quản được. Một số ngành công nghiệp như: dệt may, da giày, điện tử nếu DN có đơn đặt hàng mà không cho làm thêm thì rất khó để hoàn thành đúng tiến độ.
Ở góc nhìn của các đơn vị dùng lao động cho thấy, DN chịu áp lực cạnh tranh với DN trong khu vực chứ không chỉ DN nội địa. Quy định thời kì làm thêm còn tác động đến khả năng được nhận đơn hàng hay không, bởi phải trải qua quá trình đánh giá về trách nhiệm tầng lớp từ đối tác dựa trên Bộ luật lao động. Chất lượng sản phẩm, khách rất vừa lòng, nhưng rớt hợp đồng vì ảnh hưởng từ số giờ làm việc chính thức và giờ làm thêm. Trong khi các nước khác đạt hiệp đồng dù điều kiện làm việc, bảo hộ cần lao, lương bổng, chăm lo cho công nhân không bằng DN nước mình. DN không phát triển thì đời sống công nhân ảnh hưởng, tác động kim ngạch xuất khẩu và ảnh hưởng nền kinh tế, thu nhập quốc gia.
Nhìn ra các quốc gia khác cho thấy, nước Nhật Bản sung túc gấp bội ta, người lao động bên Nhật luôn làm việc vô cùng mình cùng với tính kỷ luật cao độ, Chính phủ Nhật vẫn cho phép DN và người lao động được tăng thêm thời kì làm việc hàng năm cao hơn nhiều so với Việt Nam. Với các nước Singapore, Malaysia, Thái Lan hay Trung Quốc cũng vậy... Trong khi tại Indonesia, giờ làm thêm là 728 giờ/năm, còn Việt Nam nếu không nới rộng thời gian làm thêm cho DN và người lao động, thì đối tác sẽ chọn lựa các nước khác cho đơn hàng.
Trong khi đó, phí tổn sản xuất mỗi ngày một tăng, đặc biệt là uổng nhân công (gồm lương, thưởng, các loại bảo hiểm...) thường chiếm từ 85 - 87% trong tổng giá trị gia công. Còn lại trên 15% chi phí tiếp dành cho khấu hao, phí quản lý, phục vụ, điện, nước, vận tải, giao nhận, đồng phục...
Không những thế, giá gia công mỗi ngày càng giảm bởi sức mua giảm sút của thị trường. vì thế, việc khống chế thời gian làm thêm ở DN Việt Nam thấp hơn nhiều so các nước xung quanh vững chắc sẽ làm sức cạnh tranh của các DN Việt càng thêm yếu, GDP quốc gia sẽ bị sụt giảm nhiều, DN sẽ rơi vào tình trạng hiểm vì dự trữ tài chính quá hẻo, không đủ sức chống đỡ các tình huống bất khả kháng của thời vận.
Ðề nghị tăng thêm thời gian làm việc mỗi năm, cũng là để người lao động có điều kiện tận dụng máy móc, thiết bị, nhà xưởng, vật tư đang có sẵn trên dây chuyền sinh sản với thời kì làm thêm vừa phải để tăng thêm nguồn thu nhập lương thiện và chính đáng cho mình...
kiên trinh
0 nhận xét:
Đăng nhận xét